Nổi bật

Sức mạnh của tinh thần đoàn kết trong phòng, chống và khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lũ tại Việt Nam hiện nay

CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CÂU LẠC BỘ LÝ LUẬN TRẺ HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT:

Tinh thần đoàn kết, nghĩa đồng bào là giá trị văn hóa trường tồn và là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Giá trị cao đẹp ấy đã một lần nữa thể hiện rõ nét trong công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai vừa qua, được minh chứng sống động qua hình ảnh các cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân cả nước luôn hướng về các địa phương nơi có đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ. Bài viết tập trung làm rõ những mặt tích cực, từ sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị đến làn sóng thiện nguyện mạnh mẽ của đồng bào trên khắp mọi miền Tổ quốc. Đồng thời, bài viết cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác tổ chức, điều phối hoạt động phòng, chống và khắc phục hậu quả. Qua đó, tiếp tục khẳng định tinh thần đoàn kết chính là nguồn nội lực to lớn tạo nên sức mạnh tổng hợp dân tộc Việt Nam, góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và khẳng định truyền thống “tương thân tương ái” trong thời đại mới.

TỪ KHÓA: Tinh thần đoàn kết, bão lũ, phòng chống thiên tai, khối đại đoàn kết.

1. Đặt vấn đề

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh nội sinh, đã được minh chứng rõ ràng qua lịch sử của dân tộc Việt Nam. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là các trận thiên tai, bão lũ trong thời gian qua, việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai càng trở nên có tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Thời gian qua, cường độ thiên tai ngày càng khốc liệt, điển hình như bão Yagi được ghi nhận là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào miền Bắc trong 70 năm qua, gây ra sự tàn phá vô cùng nặng nề, thiệt hại ước tính lên đến 81.000 tỷ đồng. (Thanh niên, 2024).

Thực tiễn đã cho thấy, trước những tổn thất nặng nề về người và tài sản của đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đã thể hiện sâu sắc tinh thần “tương thân tương ái”, tạo nên một sức mạnh tổng hợp to lớn. Tác giả trung nghiên cứu, phân tích thực trạng, làm rõ những mặt tích cực và chỉ ra những hạn chế, tồn tại cùng nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả và giải quyết các hạn chế từ nguồn lực to lớn này trong tình hình mới.

2. Thực trạng tinh thần đoàn kết trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ

2.1. Thành tựu

Trong công tác dự báo, phòng, chống, khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lũ gây ra trong những năm qua đã giúp giảm thiệt hại do có ứng phó và chuẩn bị trước từ sự phối hợp của các cấp chính quyền, Nhân dân ở địa phương được dự báo trước. Từ đó sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả do thiên tai đã đạt được nhiều mặt tích cực, cụ thể:

Thứ nhất là đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Sự chỉ đạo không chỉ mang tính chiến lược mà còn rất cụ thể, sát sao. Ngay sau khi bão số 10 đi qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ra Công điện khẩn, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung mọi nguồn lực, ưu tiên hàng đầu cho việc tìm kiếm người mất tích, thăm hỏi, hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại, đảm bảo không người dân nào bị bỏ lại phía sau. Công điện cũng chỉ đạo rõ việc huy động các lực lượng tại chỗ giúp dân sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp vệ sinh môi trường, khôi phục nhanh chóng các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện lực, trường học, cơ sở y tế (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Sự chỉ đạo toàn diện, đặt tính mạng và đời sống của nhân dân lên trên hết đã củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân.

Thứ hai là đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần nhân ái trong tất cả các tầng lớp Nhân dân, biến thành những hành động cụ thể, thiết thực. Không chỉ là những khoản đóng góp tài chính, mà còn là rất nhiều hàng hóa, nhu yếu phẩm, tất cả đều xuất phát từ “mệnh lệnh từ trái tim”, thể hiện sâu sắc nghĩa đồng bào. Minh chứng sống động là ngay sau cơn bão Bualoi (bão số 10), hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính đến 17 giờ 00 ngày 03/10/2025, số tiền ủng hộ thông qua Ban Vận động Cứu trợ Trung ương đã lên tới trên 710 tỷ đồng chỉ trong thời gian ngắn vận động (Trường Phong, 2025).

Thứ ba là tinh thần quả cảm, hy sinh của các lực lượng tuyến đầu đã trở thành biểu tượng cao đẹp. Điều này thể hiện rõ một cách bi tráng và đầy xúc động qua hy sinh của 13 cán bộ, chiến sĩ trên đường đi cứu nạn tại thủy điện Rào Trăng 3, một sự kiện vẫn còn lay động hàng triệu trái tim (Đại Dương, 2021). Tinh thần “vì Nhân dân phục vụ” ấy tiếp tục được thể hiện rõ nét trong đợt thiên tai trong thời gian vừa qua. Tinh thần ấy cũng thể hiện tại Quảng Ninh qua sự hy sinh anh dũng của hai chiến sĩ khi làm nhiệm vụ chống bão Yagi (Báo Quảng Ninh, 2025). Mới đây nhất, trong sự thảm khốc của cơn bão Bualoi, tại Đắk Lắk, đồng chí Chủ tịch xã Lê Phước Toàn đã ngã xuống hy sinh khi đang nỗ lực khai thông tuyến đường cho Nhân dân (Hồng Chuyên, 2025). Những tấm gương hy sinh quên mình này đã lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc, củng cố sự gắn kết máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Thứ tư là vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí chính thống được phát huy hiệu quả, trở thành một mặt trận thông tin quan trọng. Theo đó các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt nhiệm vụ kịp thời, vừa cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác về diễn biến thiên tai và chỉ đạo của Chính phủ, giúp ổn định xã hội, chống tin giả đảm bảo không gây hoang mang trong dư luận; vừa là cầu nối hiệu quả huy động và điều hướng các nguồn lực xã hội đến với đồng bào, có thể thấy rõ, hiện tượng các fanpage của nhiều tài khoản thực hiện “thu phí” theo dõi nhưng lại để số tài khoản là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đặc biệt, truyền thông đã xuất sắc trong vai trò định hướng dư luận bằng việc làm nổi bật những câu chuyện truyền cảm hứng về sự hy sinh, tinh thần đoàn kết và nghĩa đồng bào. Qua đó, báo chí không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tích cực trau dồi niềm tin, củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.

2.2. Hạn chế

Những mặt làm được là kết quả to lớn, mang ý nghĩa sâu sắc, thực tiễn qua công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thì bên cạnh đó vẫn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn, cụ thể như sau:

Một là, công tác tổ chức, điều phối ứng phó sớm với thiên tai, bão lũ còn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, đây là một trong những hạn chế mang tính hệ thống, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ quá trình ứng phó, xử lý thiên tai.

Hai là, tư duy ứng phó còn nặng về cứu trợ khẩn cấp, ngắn hạn, chưa có sự chuyển đổi tương xứng sang chiến lược phục hồi bền vững. Các hoạt động hỗ trợ thường tập trung vào giai đoạn khủng hoảng với lương thực, quần áo, nhu yếu phẩm. Tuy nhiên, các chương trình mang tính chiến lược hơn như tái thiết sinh kế cho người bị nạn, xây dựng nhà cửa an toàn theo mô hình nhà chống lũ, tư vấn tâm lý và phục hồi sản xuất cho người dân sau thiên tai vẫn còn hạn chế do thiếu nguồn lực.

Ba là, hạ tầng phòng chống thiên tai và năng lực ứng phó tại chỗ còn hạn chế, chưa theo kịp diễn biến của các hình thái thời tiết cực đoan. Trận ngập lụt lịch sử tại Hà Nội là một minh chứng điển hình cho sự quá tải và “vỡ trận” của hệ thống thoát nước đô thị (Phạm Tuấn, 2025). Trên diện rộng, nhiều hạn chế khác cũng đã được chỉ ra, bao gồm chất lượng một số công trình đê điều, hồ đập chưa đảm bảo và năng lực của lực lượng tại chỗ trong việc triển khai phương châm “bốn tại chỗ” vẫn còn nhiều lúng túng, bị động (Văn Ngân, 2024).

Bốn là, công tác tuyên truyền thông tin, truyền thông và cảnh báo trong tình huống khủng hoảng sớm đôi khi còn bị động, thiếu kịp thời. Trong một số thời điểm then chốt, sự thiếu vắng thông tin chỉ đạo, định hướng rõ ràng từ chính quyền đã tạo ra một “khoảng trống thông tin”, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, như đã được phản ánh qua “sự im lặng” sau trận ngập lụt tại Hà Nội (Bùi Phú Châu, 2025). Sự bị động này làm giảm hiệu quả của công tác ứng phó chung và có thể làm suy giảm niềm tin của Nhân dân khi họ cần chỗ dựa trong lúc thiên tai.

2.3. Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, các hoạt động phối hợp, tổ chức còn chưa đồng bộ, kịp thời, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do chưa có cơ chế tổ chức phối hợp thông tin thống nhất, đa ngành trong tình huống khẩn cấp và một hướng dẫn cụ thể, hoàn chỉnh dự báo trước để điều phối, dẫn dắt và phát huy hài hòa sức mạnh to lớn từ các thành phần tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lũ.

Thứ hai, tư duy ứng phó, phòng, chống sớm còn ngắn hạn. Khi thảm họa xảy ra, mọi nguồn lực và sự chú ý đều được dồn vào giai đoạn ứng phó khẩn cấp với các nhu cầu sinh tồn trước mắt. Tuy nhiên, khi giai đoạn cấp bách qua đi, sự quan tâm của xã hội và truyền thông có xu hướng giảm dần, các nguồn lực hỗ trợ cũng theo đó mà thưa thớt. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc chúng ta chưa có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “ứng phó” sang tư duy “quản lý rủi ro thiên tai” một cách toàn diện. Điều này dẫn đến việc thiếu các kế hoạch tái thiết sinh kế, phục hồi sản xuất và hỗ trợ tâm lý dài hạn được xây dựng một cách bài bản, sẵn sàng để triển khai.

Thứ ba, nguồn lực đầu tư chưa thật sự được chú trọng và công tác quy hoạch, quản lý đôi khi còn yếu kém. Sự yếu kém của hạ tầng và năng lực tại chỗ có nguyên nhân sâu xa từ việc nguồn lực đầu tư cho công tác phòng, chống thiên tai. Việc đầu tư nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng trọng yếu như đê điều, hồ đập, hệ thống thoát nước đô thị còn dàn trải, chưa đáp ứng được yêu cầu. Nghiêm trọng hơn, công tác quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý đất đai ở một số nơi còn lỏng lẻo, thậm chí bị buông lỏng, để xảy ra tình trạng lấn chiếm không gian thoát lũ, xây dựng các công trình trái phép ở khu vực có nguy cơ cao, làm gia tăng mức độ rủi ro một cách nhân tạo.

Thứ tư, tư duy quản lý khủng hoảng truyền thông còn bị động, sự bị động trong tư duy quản lý khủng hoảng truyền thông ở một số cơ quan, địa phương là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những “khoảng trống thông tin” nguy hiểm. Trong thời đại số, thông tin lan truyền với tốc độ chóng mặt, và việc chậm trễ cung cấp thông tin chính thức từ phía chính quyền sẽ tạo điều kiện cho tin giả, tin sai lệch lan truyền, gây hoang mang, bất ổn trong dư luận. Nguyên nhân của sự bị động này xuất phát từ tâm lý e ngại, chờ xin ý kiến, cung cấp thông tin thống nhất, chủ động và đa nền tảng trong tình huống khẩn cấp. Việc im lặng hoặc cung cấp thông tin chậm trễ không chỉ làm giảm hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành mà còn có thể làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin của Nhân dân vào năng lực quản lý, điều hành của chính quyền trong những thời điểm mà họ cần một chỗ dựa vững chắc nhất.

3. Giải pháp

Từ việc phân tích sâu sắc thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế, việc đề ra các giải pháp mang tính đồng bộ, chiến lược là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp tập trung vào việc thể chế hóa, định hướng và phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biến tinh thần đoàn kết tự phát thành sức mạnh tổng hợp, có tổ chức và hiệu quả. 

Thứ nhất, thể chế hóa cơ chế phối hợp thống nhất, phát huy vai trò hơn nữa của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tập hợp sức mạnh tổng hợp nhằm huy động nguồn lực trong công tác phòng, chống khắc phục thiên tai, bảo lũ. Mặt trận phải là đầu mối trung tâm, là cầu nối tin cậy giữa các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang với các tổ chức xã hội, các nhóm thiện nguyện và cá nhân. Cơ chế này cần quy định rõ quy trình chia sẻ thông tin, điều phối nguồn lực và giám sát minh bạch, qua đó dẫn dắt và điều phối hài hòa mọi nguồn lực xã hội từ đó tạo thành một thế trận đoàn kết toàn dân có tổ chức, hiệu quả và đi đúng hướng.

Thứ hai, chuyển đổi chiến lược, định hướng tinh thần đoàn kết từ cứu trợ ngắn hạn sang hỗ trợ phục hồi bền vững. Để khắc phục tư duy ứng phó ngắn hạn, cần có một sự chuyển đổi chiến lược trong việc kêu gọi và sử dụng các nguồn lực xã hội. Thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động cứu trợ tức thời, các cơ quan chức năng và Mặt trận Tổ quốc cần chủ động định hướng tinh thần đoàn kết của toàn dân vào các chương trình, dự án mang tính dài hạn. Việc này không chỉ giải quyết bài toán thiếu nguồn lực cho giai đoạn tái thiết mà còn nâng tầm tinh thần đoàn kết, biến lòng nhân ái thành sự đầu tư cho khả năng chống chịu và phát triển bền vững của cộng đồng.

Thứ ba, tăng cường “xã hội hóa” công tác phòng, chống thiên tai, huy động sức mạnh đoàn kết từ cơ sở để củng cố hạ tầng và năng lực tại chỗ. Để giải quyết vấn đề hạ tầng và năng lực ứng phó tại chỗ, bên cạnh nguồn lực của Nhà nước, cần đẩy mạnh chủ trương “xã hội hóa”, huy động trực tiếp sức mạnh đoàn kết của toàn thể Nhân dân cả nước. Cần xây dựng các cơ chế để người dân có thể tham gia vào quá trình quy hoạch, giám sát việc xây dựng các công trình phòng chống thiên tai tại địa phương. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở trong việc thành lập và huấn luyện các đội xung kích phòng, chống thiên tai. Việc này giúp người dân từ đối tượng bị động, cần bảo vệ trở thành chủ thể chủ động tham gia, củng cố phương châm “bốn tại chỗ” bằng chính tinh thần đoàn kết.

Thứ tư, xây dựng “mặt trận thông tin” chặt chẽ, chủ động định hướng dư luận và củng cố niềm tin của nhân dân từu sớm, tránh để chậm trễ thông tin đến người dân, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và hoạt động phối hợp phòng, chống, khắc phục thiên tai, bão lũ. Để khắc phục sự bị động trong truyền thông, cần xây dựng một cơ chế phối hợp thông tin chủ động, thống nhất. Trong đó, các cơ quan nhà nước giữ vai trò cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, nhưng cần phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và các kênh truyền thông có uy tín để lan tỏa thông tin này một cách rộng rãi, nhanh chóng. Việc chủ động cung cấp thông tin, đối thoại và giải đáp các vấn đề dư luận quan tâm sẽ lấp đầy “khoảng trống thông tin”, đập tan tin giả và củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân. Đây chính là cách thể hiện sự đoàn kết, đồng hành giữa chính quyền và nhân dân trong những thời điểm khó khăn nhất.

4. Kết luận

Tinh thần đoàn kết, nghĩa đồng bào một lần nữa được khẳng định là cội nguồn sức mạnh nội sinh vô giá của dân tộc Việt Nam, đặc biệt khi đối mặt với những thử thách khắc nghiệt của thiên tai. Bài viết đã làm rõ sức mạnh ấy được thể hiện mạnh mẽ qua sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và làn sóng tương trợ sâu rộng trong nhân dân. Tuy thực tiễn cũng còn bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống trong công tác tổ chức, điều phối, tư duy chiến lược và năng lực ứng phó tại chỗ. Để phát huy hiệu quả hơn nữa nguồn lực to lớn này, việc thể chế hóa cơ chế phối hợp, chuyển đổi tư duy sang phục hồi bền vững và xây dựng mặt trận thông tin chủ động là những giải pháp cấp thiết. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ giải quyết các hạn chế, biến tinh thần đoàn kết tự phát thành sức mạnh tổng hợp có tổ chức, góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giúp đất nước kiên cường hơn trước mọi thử thách, khó khăn từ thiên tai.

Mai Xuân Thi
Thành viên CLB Lý luận trẻ
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo điện tử Chính phủ. (2025). Thủ tướng chỉ đạo tập trung khắc phục nhanh hậu quả bão số 10 và mưa lũ. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://baochinhphu.vn/thu-tuong-chi-dao-tap-trung-khac-phuc-nhanh-hau-qua-bao-so-10-va-mua-lu-102251002021745459.htm

[2] Báo Quảng Ninh. (2025). Quảng Ninh có 2 chiến sĩ hy sinh khi làm nhiệm vụ chống bão. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://baoquangninh.vn/quang-ninh-co-2-chien-si-hy-sinh-khi-lam-nhiem-vu-chong-bao-3317966.html

[3] Bùi Phú Châu. (2025). Sự im lặng của Hà Nội. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://vnexpress.net/su-im-lang-cua-ha-noi-4946394.html

[4] Đại Dương. (2021). Tưởng niệm một năm ngày 13 liệt sĩ hy sinh ở thủy điện Rào Trăng. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/tuong-niem-mot-nam-ngay-13-liet-si-hy-sinh-o-thuy-dien-rao-trang-20211003173806080.htm

[5] Đức Hùng, Gia Chính, & Đắc Thành. (2025). Vì sao bão Bualoi gây thiệt hại lớn? VnExpress. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://vnexpress.net/vi-sao-bao-bualoi-gay-thiet-hai-lon-4946166.html

[6] Hồng Chuyên. (2025). Chủ tịch UBND tỉnh Tạ Anh Tuấn gửi thư chia buồn tới thân nhân đồng chí Lê Phước Toàn. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://baodaklak.vn/xa-hoi/202510/chu-tich-ubnd-tinh-ta-anh-tuan-gui-thu-chia-buon-toi-than-nhan-dong-chi-le-phuoc-toan-31c0803/

[7] Phạm Tuấn. (2025). Sở Xây dựng nói gì khi Hà Nội “vỡ trận” vì ngập sâu, nước thoát chậm? Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://tuoitre.vn/so-xay-dung-noi-gi-khi-ha-noi-vo-tran-vi-ngap-sau-nuoc-thoat-cham-20251001141052646.htm

[8] Phi Long. (2024). Ấm áp tinh thần dân tộc, nghĩa đồng bào trong bão lũ. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://vov.vn/xa-hoi/am-ap-tinh-than-dan-toc-nghia-dong-bao-trong-bao-lu-post1121888.vov

[9] Thanh Niên. (2024). Bão Yagi mạnh nhất trong 70 năm qua, tàn phá Việt Nam. Thanh Niên. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://thanhnien.vn/bao-yagi-manh-hat-trong-70-nam-qua-tan-pha-viet-nam-185240928154828042.htm

[10] Trường Phong. (2025). Ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão số 10: Qua tài khoản, nhà hảo tâm có thể chọn sao kê hoặc giữ kín. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://tienphong.vn/ung-ho-dong-bao-bi-thiet-hai-do-bao-so-10-qua-tai-khoan-nha-hao-tam-co-the-chon-sao-ke-hoac-giu-kin-post1783718.tpo

[11] Văn Ngân. (2024). Hàng loạt hạn chế trong phòng chống thiên tai được chỉ ra. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025 tại: https://vov.vn/xa-hoi/hang-loat-han-che-trong-phong-chong-thien-tai-duoc-chi-ra-post1217436.vov


 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *